Mỹ chính thức cho khu trục hạm USS Zumwalt ra khơi sau 8 năm chế tạo
Khu trục hạm lớn nhất và viễn tưởng nhất nhất mang tên USS Zumwalt (số hiệu DDG-1000) đã rời nhà máy đóng tàu du thuyền Bath Iron Works hồi đầu tuần nay để chuẩn bị cho hoạt động thử nghiệm trên biển đầu tiên sau 8 năm chế tạo. Đây là 1 trong 3 tàu thuộc lớp Zumwalt - lớp tàu khu trục tàng hình mang tên lửa dẫn đường đại diện cho tương lai của hải quân Mỹ. Chiếc đầu tiên này được đặt theo tên của đô đốc Elmo Zumwalt.
Lớp tàu Zumwalt được thiết kế để hoạt động trên cả đại dương lẫn những vùng nước nông và có thể thực hiện nhiều vai trò khác nhau bao gồm bảo vệ các tàu lớn, tấn công các mục tiêu trên đất liền. Zumwalt vận hành tự động hóa cao theo các tiêu chuẩn hải quân Mỹ với thủy thủ đoàn 158 người - chỉ bằng 1 nửa so với thủy thủ đoàn trên các tàu khu trục thuộc lớp Arleigh Burke hiện tại. Lớp tàu Zumwalt cũng có thể tạo ra đủ năng lượng để tích hợp và vận hành các loại vũ khí tương lai như railgun hay vũ khí laser được hải quân phát triển. Chi phí đóng mới mỗi con tàu, cano cao toc thuộc lớp Zumwalt vào khoảng 4,4 tỉ USD, do đó 32 tàu theo kế hoạch ban đầu đã bị cắt xuống còn 24, sau đó 7 và cuối cùng là 3 tàu.
Hoạt động thử nghiệm đầu tiên trên vùng biển mở đóng vai trò quan trọng để kiểm chứng thiết kế độc đáo của Zumwalt, bao gồm khả năng tàng hình và độ ổn định. Zumwalt có thiết kế thân tàu úp ngược với các mạn tàu hẹp dần lên trên. Thiết kế này được sử dụng rất phổ biến trên những chiếc tàu chiến gỗ và tàu bọc sắt vào thế kỷ 19 bởi mạn tàu hẹp khiến đối phương khó đổ bộ lên tàu cũng như tăng khả năng chống chịu cho lớp giáp bởi vật thể phóng ra (chẳng hạn như đạn đại bác) khi chạm vào bề mặt dốc dễ bị chệch hướng hơn và cần phải xuyên thủng nhiều vật liệu hơn để gây tổn hại đến cấu trúc tàu. Vào thế kỷ 20 thì thiết kế này không còn được dùng nữa do thiếu độ ổn định. Tuy nhiên, hải quân Mỹ cho biết Zumwalt với mạn tàu nghiêng, thân nhọn rẽ sóng sẽ có nhiều lợi thế tàng hình và các hệ thống máy tính tinh vi sẽ giúp loại bỏ mọi vấn đề về độ ổn định khi tàu di chuyển. Hoạt động thử nghiệm trên biển đầu tiên chính là để kiểm chứng hiệu năng của hệ thống này.
umwalt có chiều dài 182,9 m, rộng 24,6 m, mớn nước 8,4 m và lượng giãn nước 14.564 tấn. Tàu dùng 2 động cơ turbine khí Rolls-Royce MT30, trang bị 2 turbine phát điện Rolls-Royce RR4500 cho tốc độ tối đa 30,3 knot (56,1 km/h). Ngoài thiết kế tối ưu hiệu quả tàng hình, Zumwalt còn được trang bị hệ thống radar đa chức năng AN/SPY-3 băng tần X quét chùm và radar dò tìm âm thanh VSR băng tần S. Về vũ khí, Zumwalt được trang bị 20 mô-đun phóng thẳng đứng MK 57 VLS, mỗi mô-đun có 4 khoang phóng, tổng cộng 80 khoang. Mỗi khoang có thể chứa 1 hoặc nhiều tên lửa tùy theo kích thước bao gồm:
Ngoài ra, Zumwalt còn được trang bị hệ thống vũ khí tại chỗ gồm 2 tháp pháo tự động AGS 155 mm, 2 tháp súng Mk 46 30 mm GDLS và có thể chuyên chở nhiều loại máy bay trực thăng như 3 chiếc MQ-8 Fire Scout UAV (trực thăng do thám, hỗ trợ tác chiến trên không không người lái) hoặc 2 chiếc SH-60 Seahawk LAMPS hoặc 1 chiếc MH-60R.
Lớp tàu Zumwalt được thiết kế để hoạt động trên cả đại dương lẫn những vùng nước nông và có thể thực hiện nhiều vai trò khác nhau bao gồm bảo vệ các tàu lớn, tấn công các mục tiêu trên đất liền. Zumwalt vận hành tự động hóa cao theo các tiêu chuẩn hải quân Mỹ với thủy thủ đoàn 158 người - chỉ bằng 1 nửa so với thủy thủ đoàn trên các tàu khu trục thuộc lớp Arleigh Burke hiện tại. Lớp tàu Zumwalt cũng có thể tạo ra đủ năng lượng để tích hợp và vận hành các loại vũ khí tương lai như railgun hay vũ khí laser được hải quân phát triển. Chi phí đóng mới mỗi con tàu, cano cao toc thuộc lớp Zumwalt vào khoảng 4,4 tỉ USD, do đó 32 tàu theo kế hoạch ban đầu đã bị cắt xuống còn 24, sau đó 7 và cuối cùng là 3 tàu.
Hoạt động thử nghiệm đầu tiên trên vùng biển mở đóng vai trò quan trọng để kiểm chứng thiết kế độc đáo của Zumwalt, bao gồm khả năng tàng hình và độ ổn định. Zumwalt có thiết kế thân tàu úp ngược với các mạn tàu hẹp dần lên trên. Thiết kế này được sử dụng rất phổ biến trên những chiếc tàu chiến gỗ và tàu bọc sắt vào thế kỷ 19 bởi mạn tàu hẹp khiến đối phương khó đổ bộ lên tàu cũng như tăng khả năng chống chịu cho lớp giáp bởi vật thể phóng ra (chẳng hạn như đạn đại bác) khi chạm vào bề mặt dốc dễ bị chệch hướng hơn và cần phải xuyên thủng nhiều vật liệu hơn để gây tổn hại đến cấu trúc tàu. Vào thế kỷ 20 thì thiết kế này không còn được dùng nữa do thiếu độ ổn định. Tuy nhiên, hải quân Mỹ cho biết Zumwalt với mạn tàu nghiêng, thân nhọn rẽ sóng sẽ có nhiều lợi thế tàng hình và các hệ thống máy tính tinh vi sẽ giúp loại bỏ mọi vấn đề về độ ổn định khi tàu di chuyển. Hoạt động thử nghiệm trên biển đầu tiên chính là để kiểm chứng hiệu năng của hệ thống này.
umwalt có chiều dài 182,9 m, rộng 24,6 m, mớn nước 8,4 m và lượng giãn nước 14.564 tấn. Tàu dùng 2 động cơ turbine khí Rolls-Royce MT30, trang bị 2 turbine phát điện Rolls-Royce RR4500 cho tốc độ tối đa 30,3 knot (56,1 km/h). Ngoài thiết kế tối ưu hiệu quả tàng hình, Zumwalt còn được trang bị hệ thống radar đa chức năng AN/SPY-3 băng tần X quét chùm và radar dò tìm âm thanh VSR băng tần S. Về vũ khí, Zumwalt được trang bị 20 mô-đun phóng thẳng đứng MK 57 VLS, mỗi mô-đun có 4 khoang phóng, tổng cộng 80 khoang. Mỗi khoang có thể chứa 1 hoặc nhiều tên lửa tùy theo kích thước bao gồm:
- RIM-66 Standard- tên lửa đối không tầm trung;
- Evolved SeaSparrow Missle (ESSM) - tên lửa đánh chặn;
- BGM-109 Tomahawk - tên lửa hành trình tầm xa;
- RUM-139 Vertical Launch Anti-Submarine Rocket - tên lửa đối ngầm phóng thẳng đứng.
Ngoài ra, Zumwalt còn được trang bị hệ thống vũ khí tại chỗ gồm 2 tháp pháo tự động AGS 155 mm, 2 tháp súng Mk 46 30 mm GDLS và có thể chuyên chở nhiều loại máy bay trực thăng như 3 chiếc MQ-8 Fire Scout UAV (trực thăng do thám, hỗ trợ tác chiến trên không không người lái) hoặc 2 chiếc SH-60 Seahawk LAMPS hoặc 1 chiếc MH-60R.


Nhận xét
Đăng nhận xét